Hắn và tôi


Tối hôm qua, nhà dòng có thêm một số khách dùng bữa ăn tối, khiến cho lượng chén bát nhiều hơn. Nhưng đến giờ rửa chén thì số người anh em ở lại giúp vẫn không thay đổi. Những ai thường ở lại rửa thì vẫn ở lại, còn những ai thường ăn xong rồi bỏ đi thì vẫn bỏ đi.

Thấy vậy, cái thằng có tính tình bủn xỉn trong tôi được đánh thức và nhảy toang ra. Hắn vừa lau bát vừa càm ràm: - Cha cụ gì mà làm biếng như heo. Ăn xong rồi phủi mỏ bỏ đi.

Hắn liếc nhìn ông cha với ánh mắt khinh dễ khi ông mang đĩa từ bàn ăn vào nhà bếp, đặt vào bồn nước, rồi bước ra khỏi phòng ăn một cách tỉnh bơ. Thấy vậy, hắn thầm nguyền rủa: - Biết ăn mà chẳng biết làm!

Cái thằng có đầu óc so đo tính toán, và nhỏ mọn đó - hắn ẩn nấp trong tôi, và sẵn sàng chụp lấy bất cứ cơ hội nào để lao ra và thể hiện chính mình. Tốc độ xuất hiện của hắn nhanh đến nỗi tôi không kịp chận hắn lại. Không có hắn, trong đầu tôi nẩy lên nhiều tư tưởng rất cao thượng. Tôi quan tâm đến người nghèo khổ, bệnh tật, và những người bị đàn áp. Tôi có những hoài bảo được đấu tranh cho công lý và hoà bình. Tôi mong mỏi được trở nên dụng cụ mang Tin Mừng và sự bình an của Chúa đến mọi người. Không có hắn, tôi là hiện thân của lòng từ bi và nhân ai. Nhưng khi hắn xuất hiện, hắn cướp đi trí thông minh của tôi. Hắn hoàn toàn điều khiển miệng lưởi và suy nghĩ của tôi. Tôi trở nên một tay sai ngu ngốc của hắn.

Tôi rất ghét cái thằng bủn xỉn đó, nhưng hắn không muốn rời bỏ tôi. Hắn cứ lẩn quẩn chờ đợi một hành động, một lời nói, hay một cử chỉ của ai đó làm cho tôi không vừa lòng là hắn tự động trình diện khuôn mặt dữ tợn của hắn. Khi tôi đuổi hắn đi, hắn thu mình lại một cách miễn cưỡng, nét mặt hầm hực, và ánh mắt hắn tỏ ra đầy hận thù với lời tuyên bố như trong bộ phim Kẻ huỷ diệt: - Tao sẽ trở lại!

Trong cuộc sống, có nhiều khi diễn ra cuộc xung đột giữa tôi và hắn một cách ác liệt. Khi tôi đầy đủ vũ khí để đối phó với hắn thì hắn bị đánh nhừ, có khi còn nằm thoi thóp như chờ chết. Nhưng hắn không chết, hắn nhắm mắt giã vờ tắt thở. Tôi nhìn thấy hắn nằm không động đậy, tưởng hắn chết thật, nên quay mặt đi. Tôi trở lại với công việc quan trọng mà tôi được giao trách nhiệm để thực hành. Nhưng rồi trong khi tôi đang tự tin và chủ quan, hắn lại hồi sinh với sức mạnh ngoan cường. Hắn hoành hành và đánh làm cho tôi bầm dập. Tôi tự vấn không biết cuộc chiến khốc liệt này sẽ còn diễn ra cho tới bao giờ.

Epping, NSW ngày 29.11.2006

Quy tắc trong mục vụ


Hôm nay tôi tham dự khóa học về các quy tắc để thực hiện công tác mục vụ tại Úc một cách chuyên nghiệp và mang tính đích thực. Mặc dầu tôi không có bài sai phục vụ ở Úc, nhưng bề trên vẫn muốn tôi tham dự khoá huấn luyện hội nhập văn hoá Úc kéo dài tới hai tuần lễ.

Các vấn đề được nêu lên hôm nay cho thấy làm mục vụ trong bối cảnh thời đại của Giáo hội và xã hội Úc không đơn giản chút nào. Hai hướng dẫn viên người Úc, Seour Angela và Frere Julian, trình bày cho chúng tôi những yếu tố cần thiết để làm mục vụ cách hiệu quả, song tránh được những tình huống gây ra tai tiếng và tổn thương cho người làm mục vụ lẫn người giáo dân.

Trong thời buổi giáo hội Tây phương đang trải qua cuộc khủng hoảng do các vấn đề sách nhiễu tình dục và lạm dụng quyền lực từ phía các linh mục - tu sĩ, lối làm việc theo cảm tính hay bất cẩn đã trở nên quá mạo hiểm. Vì thế, một cử chỉ chào hỏi hay giao tiếp, nơi lời nói hay hành động được thực hiện, đối tượng trong việc giao tiếp - tất cả đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.

Frere Julian tuyên bố: - Nếu bất cứ điều gì với người khác mà quý vị không thể làm được trước mọi người, thì quý vị không thể làm điều đó khi ở một mình với họ.

Ngược lại, Sr. Angela khuyên rằng: - Việc gì người khác làm với quý vị mà quý vị không thấy thoải mái, đó là dấu chỉ quý vị nên tìm cách tránh né.

Các lời hướng dẫn có mục đích giúp cho các linh mục - tu sĩ không rơi vào tình thế có những hành động gây ra tác hại cho người khác và ngược lại, cũng như hạn chế khả năng mình trở nên nạn nhân của sự vu oan.

Thời buổi các linh mục - tu sĩ có thể giao tiếp một cách vô tư với giáo dân, cho dù đó là người lớn hay trẻ em, không còn nữa, bởi vì nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực nơi một số linh mục - tu sĩ đối với giáo dân, đặc biệt là trẻ em, cũng như nhiều trường hợp vu oan đã đưa chúng ta vào một thực trạng mới, nơi mọi người phải luôn cảnh giác và hành động theo nhiều quy tắc chặt chẻ.

Trong Thần học viện của tôi tại Hoa Kỳ, chúng tôi không được đưa bất cứ ai tuổi vị thành niên vào phòng riêng, ngoại trừ đó là em ruột. Trước đây, đi dạy kèm cho học sinh nghèo, tôi luôn phải dạy trong phòng có những người lớn khác hiện diện. Và đương nhiên, tôi không thể đưa em đó đi coi phim một mình.

Một ngày nọ, sau lễ Chúa Nhật, một em thiếu nhi không có phương tiện về nhà. Em nhờ tôi đưa em về, nhưng vì em còn ở tuổi vị thành niên, tôi không thể một mình đưa em về nhưng phải kéo thêm một người lớn khác cùng đi. Mục đích là để có người làm chứng trong trường hợp có sự kiện cáo gì xảy ra về sau.

Tuy nhiên, đưa ra những cái "được" và "không được" làm mà thôi thì không thể giúp mình làm mục vụ một cách tốt đẹp nhất. Điều quan trọng là mình phải trở nên một con người quân bình và lành mạnh trong tinh thần lẫn thể xác. Và mình dấn thân trong việc xây dựng những mối quan hệ dựa trên nền tảng tôn trọng, yêu thương, và phục vụ. Hành vi của một linh mục hay tu sĩ sẽ phải nói lên sự trung thành của mình với những giá trị mà Thiên Chúa đã trao ban cho con người.

Vì thế, điều đáng tiếc ngày nay không phải là việc có những quy tắc về hành vi mà các linh mục - tu sĩ phải tuân theo, nhưng là việc chúng ta phải trình bày bằng giấy trắng mực đen một cách thẳng thắn những lỗi lầm mà các linh mục - tu sĩ đã mắc phải và cần khắc phục. Giá như các linh mục - tu sĩ ý thức được mình là ai và tính chất yêu thương và phục vụ của sứ mệnh mà mình đã được trao phó, thì có lẽ chúng ta sẽ không phải đối diện với một thực tại đáng lo ngại như bây giờ.

Epping, NSW ngày 28.11.2006

Chiếc áo không làm nên thầy tu


Tối hôm qua, tại nhà cha mới Ph. có tiệc họp mặt. Bà con và bạn bè đến chơi rất đông. Nhà đãi nguyên một con bê thui nóng bỏ trên cái lò xoay. Ban chiều thì con bê còn nguyên xi, nhưng tới 10 giờ tối thì nhìn lại chỉ thấy còn bộ xương.


Bà con ngồi trò chuyện từng nhóm, nhóm trong phòng khách, nhóm trong nhà bếp, nhóm sau vườn, nhóm trước cổng. Ngoài patio, cha Q., cha Th., anh Thắng, chị Hào, và chị Tuyết đang ngồi trò chuyện về trang phục của các cha.

Cha Q. từ Mỹ qua bình luận: - Bên Úc này 'cấp tiến' thật. Không ai mặc áo linh mục nữa. Mình tưởng ở Mỹ mình là cấp tiến, mà ai ngờ bên Úc này còn cấp tiến hơn.

Chị Tuyết đồng ý: - Ừ, cấp tiến thật đó. Có lần con lên dòng cha dự lễ. Bước từ ngoài cổng vào, còn thấy nhiều thanh niên ăn mặc sáng sủa lắm. Họ chào con, con cứ trả lời 'chào anh'. Cô bạn mới nhéo con bảo: 'Anh gì mà anh, cha thầy không đó bà'. Nghe nói mới biết chứ nhìn không ai mà biết được đó là cha thầy, hay anh chàng nào.

Chị Tuyết xoay qua hỏi tôi: - Vậy bên Mỹ dòng cha có mặc áo dòng không?

Tôi trả lời: - Áo dòng thì ở Mỹ đã bỏ lâu rồi. Nhưng áo linh mục thì tuỳ lựa chọn của cá nhân. Ai thích mặc thì mặc, ai không thích thì không bắt buộc.

- Vậy cha có mặc áo linh mục không?

- Em thì ít mặc, nhưng cũng thỉnh thoảng.

Một lát sau, trong phòng khách, cha mới Ph. mở hai gói quà từ một cha bác dòng Đồng Công ở Hoa Kỳ. Trong đó có 3 chiếc áo lễ được thêu rất là công phu bởi các seour ở tu viện Mân Côi trên đường Huỳnh Văn Bánh, Sài Gòn. 3 chiếc áo lễ có ba màu - vàng, trắng, và xanh. Cái áo thứ tư không phải là áo lễ, mà là áo linh mục màu xám. Cầm chiếc áo linh mục trong tay, anh Ph. nói với tôi:

- Bác cho mình chiếc áo này làm gì nhỉ? Mình đâu có mặc bao giờ đâu.

- Ngày mai, lễ mở tay của anh, anh có thể mặc một lần.


Anh nhìn tôi với ánh mắt như muốn nói: 'Không hề làm điều đó'.
Tôi hỏi anh:

- Vậy anh định không bao giờ mặc hết à?

Anh Ph. gật đầu, rồi hỏi tôi:

- Mình thấy bên đó các cha thường xuyên mặc áo linh mục phải không? Thấy cha Q., cha H. (anh em trong dòng) ai cũng mặc hết cả.

- Nhiều cha bên đó vẫn mặc. Không phải lúc nào mấy anh cũng mặc, nhưng khi có lễ, đặc biệt là lễ lớn, hay là có những trường hợp giao tiếp với giáo dân.

- Bên Úc này thì không thấy ai mặc bao giờ.

Anh Ph. nói xong rồi bỏ chiếc áo linh mục màu xám vào trong hộp quà, rồi đóng hộp lại như cũ.

Hoá ra là vậy. Ở Úc, các cha không có thói quen mặc áo linh mục. Từ ngày đến đây, tôi đã để ý điều này trong dòng tôi. Nhưng tôi đã không biết rằng đây không phải là trường hợp riêng biệt, nhưng mọi người đều như vậy.

Tôi vốn là người ít khi mặc áo linh mục, nhưng trước khi qua Úc tôi vẫn bỏ vào trong vali một chiếc áo màu đen và cổ trắng để sử dụng khi cần thiết. Nhưng từ ngày tới đây đến nay, tôi chưa có dịp lấy nó ra khỏi tủ. Bây giờ thì tôi biết rằng, nó sẽ giữ hoài vị trí của nó trong tủ áo cho đến ngày tôi thu xếp đồ đạc để lên đường sang Thái Lan. Thế là chiếc áo màu đen, một hình ảnh từng gắn liền với đời sống tận hiến của các cha không còn chỗ đứng nào trong não trạng của các linh mục ở đất nước này nữa.

Brisbane, QL ngày 26.11.2006