Showing posts with label ơn gọi. Show all posts
Showing posts with label ơn gọi. Show all posts

8 năm linh mục của Chúa



 
Ngày mai là tròn 8 năm trong cuộc đời linh mục rồi nhỉ. Nghĩ cũng mau thật. Tám năm bay qua cái vèo. Tám năm trước ở Hoa Kỳ, mình đang trông chờ ngày được lên đường đi đến cánh đồng truyền giáo, trông chờ được đến với những con người bị xã hội xa lánh, ao ước được sống như thánh Đamien, vị linh mục người Bỉ đã hy sinh cuộc đời đồng hành với người bị phong hũi trên hòn đảo Molokai. Cuộc đời truyền giáo trước mắt xem thật phiêu lưu và lãng mạn. Mình luôn mơ về một cuộc sống như thế.

Giờ đây tám năm đã trôi qua. Mình dường như vẫn đang hướng tới một cuộc đời truyền giáo mà mình đã từng xây dựng trong lý tưởng. Nhìn lại những trải nghiệm xem ra có nhiều chênh lệch giữa lý tưởng và thực trạng. Trong lý tưởng, mình hy sinh thật nhiều. Trên thực tế, mình còn quá ít kỉ. Trong lý tưởng mình luôn dấn thân quên mình. Trên thực tế, mình vẫn còn quá lười biếng. Trong lý tưởng, mình rao giảng Tin Mừng thật hăng say. Trên thực tế, mình vẫn còn quá rụt rè.  Trong lý tưởng mình là một nhà truyền giáo vui vẻ, hiền lành, được nhiều người yêu mến. Trên thực tế, mình rất nóng tính và dễ mất bình tĩnh trước những điều mình cho là không đúng.  

Tám năm trôi qua dường như mình đã bỏ qua rất nhiều cơ hội để trở thành một nhà truyền giáo lý tưởng. Dù sao đi nữa thì vẫn chưa trể để tiếp tục cố gắng, tiếp tục phấn đấu, tiếp tục hoàn thiện bản thân. Dù sao đi nữa thì khi nào còn ao ước, còn có lý tưởng, và còn có hy vọng, thì mọi sự vẫn chưa kết thúc.

Bangkok, ngày 26.5.2014  


Về với bình yên


Sáng nay lại thêm một ngày mưa rơi ở tỉnh Nong Bua Lamphu. Một màu xám đặc che kín bầu trời nhìn thật buồn sầu. Ngồi nhìn ra cửa sổ phòng ngủ ngắm mưa đổ từng hạt nặng, nghe nhạc, viết nhật ký, cảm thấy cuộc đời thật êm đềm và nhẹ nhàng. Kỳ học vừa xong. Mình rời sự ồn ào náo nhiệt và cái nóng bức của Bangkok, đến Nong Bua Lamphu, gặp những ngày trời mưa mát mẻ. Không khí trong lành. Nhịp sống chậm lại. Mình ở với anh em trong cộng đoàn, được chia sẻ, cầu nguyện, và trò chuyện với nhau. Trong lòng cảm thấy bình yên lạ thường.

Mỗi lần trở lại cộng đoàn là một lần trở lại với những khuôn mặt thân quen, những anh em cùng chí hướng, cùng một sứ vụ phục vụ Chúa và tha nhân trên cánh đồng truyền giáo Thái Lan. Mỗi khi trở lại với cộng đoàn là trở lại với sự quen thuộc trong tính cách của từng người với sự khôi hài và lạ lẫm của mỗi bản tính làm cho cộng đoàn thêm màu sắc và sự đa dạng. Ở đây có sự chấp nhận nhau vì là anh em cùng một hội dòng, có sự thông cảm cho nhau vì không ai là hoàn hảo, có sự nâng đỡ và khuyến khích nhau vì thành công của người khác cũng chính là niềm vui của mình, và đôi khi cũng có sự chịu đựng nhau vì ý thức rằng đó là điều mà những thành viên trong một đại gia đình phải biết làm.

Ba ngày ở trong cộng đoàn cảm thấy thật hạnh phúc. Xa Bangkok. Xa sự ồn ào, chật chội của thành thị. Xa những tòa nhà chọc trời và những vỉa hè tấp nập người. Xa những dòng xe rồng rắn trên đường phố và những bữa ăn một mình trong căn phòng ký túc xa của trường đại học. Mình tìm đến nguồn suối ơn phúc, nơi có những cơn mưa, có những khuôn mặt thân quen, nơi có những câu chuyện vui vẻ, và nơi có những phút giây đầy an bình.

Nong Bua Lamphu,ngày 2.5.2014

Đã đến lúc cậy vào sức Chúa


Hai ngày nay mình đang phải đối phó với một cảm giác rất quen thuộc. Cảm giác đó thường đến với mình sau những dịp lễ lớn như Mùa Chay, Mùa Vọng, và những dịp quan trọng khác mà đòi hỏi mình phải tập trung tư tưởng, năng lực và ý chí. Đó lã cảm giác mãn nguyện với những gì mình đã làm. Mãn nguyện là mình đã cố gắng tốt trong thời gian qua. Và sau đó là tự cho mình cái phần thưởng là bây giờ không còn phải cố gắng nữa, không cần phải tập trung nữa. Bây giờ mình có thể buông lỏng vì những gì cần làm đã làm xong.

Mình biết đó là suy nghĩ nông cạn và sai lạc. Sự cố gắng và nỗ lực không phải chỉ là điều mà người ta chỉ làm trong vài tuần của Mùa Chay hoặc ở một thời điểm nhất định nào đó mà phải là làm hoài làm mãi. Mùa Chay chỉ là thời điểm đặc biệt nhắc nhở mình về những điều mà đáng ra mình phải làm quanh năm suốt tháng. Nhưng sự tự mãn nguyện là một cám dỗ rất mãnh liệt và nó có thể làm cho tất cả những thành quả đã gặt hái được bị đỗ vở. Mình đã từng chứng kiến những người nghiện bỏ ma túy được cả năm trời. Nhưng sau đó cũng vì cái cảm giác mãn nguyện và quyết định tự thưởng cho mình một lần chơi mà khiến cho họ rơi trở lại vào vòng nghiện ngập còn nặng hơn trước nữa.

Đối với đời sống đạo cũng thế. Có khi người ta giữ mình được một thời gian dài. Nhưng cũng trong chốc lát mà tội lỗi ngập tràn vì sự buông lỏng, vì sự chủ quan, vì sự tự mãn nguyện. Các nhà tâm lý học nói rằng lý do điều này xảy ra là vì sự tự chủ trong mỗi người có giới hạn. Nó như năng lượng con người, có một mức độ nhất định tùy theo mỗi người. Càng dùng đến nó thì càng hao tổn. Và khi nó đã cạn kiệt thì người ta hết tự chủ và dẫn đến những quyết định không đúng đắn.

Mình đồng ý với quan điểm của các nhà tâm lý học. Sự tự chủ của từng người có giới hạn. Khi phải đối phó với hàng loạt sự việc cần đến sự tự chủ liên tục thì dần dần khả năng làm chủ bản thân sẽ thuyên giảm. Không ai làm chủ chính mình được mãi. Vì thế nếu cậy vào sức mình mà thôi để làm chủ bản thân thì không sớm thì muộn cũng sẽ chứng kiến sự thất bại, có khi rất nặng nề. May thay, trong đời sống mình còn có Chúa, có một Đấng uy quyền với sức lực vô biên không bao giờ cạn kiệt. Ngài sẽ là sự hỗ trợ cho mình khi cảm thấy yếu đuối, kiệt sức, hết ý chí để chống chọi. Năng lực trong mình hết thì có thể chuyển qua Chúa để có thể tiếp tục hành trình trong cuộc sống trần thế. Chỉ có điều mình phải biết "đổi số" từ "Tôi" qua "Chúa" đúng lúc để máy không bị hỏng giữa đường.

Bangkok, ngày 24.4.2014

 

Học hỏi

Học hỏi là công việc của cả một đời người. Mình đã nhận ra điều đó từ những vấp ngã trên con đường tu trì và phục vụ. Mình không nên bao giờ tự tin là mình đã biết hết thậm chí biết đủ để bảo đảm không bao giờ làm sai, không bao giờ làm cho người khác hiểu lầm hoặc khó chịu. Những điều mình làm theo thói quen, tư duy hoặc văn hóa mà mình đã được đào tạo, khi bước vào một môi trường mới không hẳn là điều đúng. Mặc dầu mình ý thức được điều đó và cố gắng thích nghi, nhưng rồi cũng có những lúc mình chủ quan hoặc sơ xót. Thế là có thể mang lại hệ quả không tốt ảnh hưởng đến tiếng tăm và công việc.

Là một nhà truyền giáo thì trọng trách học hỏi càng phải gia tăng hơn nữa. Việc học hỏi không nằm ở sách vở mà ở kinh nghiệm sống và làm việc, bao gồm cả những sự cố đáng tiếc gây ra hậu quả xấu, và hồng ân đến từ những người tốt bụng không lên án mình nhưng nhắc nhở và thông cảm. Nhờ vào điều đó mà mình mới có thể rút kinh nghiệm để thăng tiến và làm tốt hơn. Mình cảm ơn những người luôn nhắc nhở mình để sống và làm việc tốt và hiệu quả hơn trong môi trường xuyên tôn giáo và văn hóa. Chính những người này với sự hiểu biết và chia sẻ là những người thầy đáng quý giúp mình ngày càng trở nên một nhà truyền giáo bén nhạy và linh hoạt. Cảm ơn Chúa luôn gởi đến cho mình những kinh nghiệm học hỏi, cho dù đau buồn, nhưng lại rất bổ ích cho cuộc hành trình phục vụ lâu dài của mình.

Bangkok, ngày 27.2.2014

Kỷ niệm 7 năm trên đất Thái



Thế là cũng đã tròn 7 năm từ ngày mình bước chân đến Thái Lan với sứ mệnh "nhà truyền giáo Ngôi Lời". Mình vẫn nhớ ngày đó 7 năm về trước, mình đến Bangkok một mình, chưa quen biết ai nên cũng không có ai ra đón ở sân bay. Sau khi làm thủ tục hải quan và nhận hành lý xong, mình đi taxi đến nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế nơi bề trên đã xin phép các cha ở đây cho mình lưu trú trong thời gian học tiếng Thái. Lúc đó cha chánh xứ là cha Somphong. Ngài là một linh mục rất đạo đức và hiền lành. Ngài đã tạo điều kiện cho mình có nơi ăn nơi ở để có thề hoàn toàn tập trung vào việc học hành.

Chỉ ngòai một thời gian hơn một tháng mình phải sang Việt Nam để chờ visa truyền giáo được hoàn tất thì mình đã ngày ngày cắp sách đến trường để học ngôn ngữ của người bản xứ. Vì mang trong người cái sứ mệnh truyền giáo, và nôn nóng để được hội nhập văn hóa, mau chóng được giao tiếp với người Thái nên mình đã dốc hết sức lực và thời giờ vào việc trau dồi ngôn ngữ. Nhờ sự nỗ lực ấy mà mình đã tiếp thu tiếng Thái được rất nhanh. Nhà dòng cho mình thời gian để học là một năm, nhưng trên thực tế mình chỉ đi học 5 tháng. Mình bỏ ra thêm ít tháng để tự học và ôn thi lấy chứng chỉ. Rồi sau đó, mình xin phép bề trên cho đi thực tập sớm hơn thời hạn.

Đầu tháng giêng năm 2008, mình cuốn gói rời khỏi Bangkok để đi thực tập và nhận xứ trong giáo phận Udon Thani. Xứ của mình là một ngôi nhà thờ nhỏ bé nhưng xinh xắn, ngôi nhà thờ Công giáo duy nhất tại tỉnh Nong Bua Lamphu. Ở đó, mình phục vụ cho đến ngày 31 tháng 12, năm 2012. Và sau khi đón giao thừa Tết Dương Lịch xong thì mình đã lên chiếc xe bán tải của một giáo dân trở lại Bangkok để bắt đầu một chặng đường mới trong cuộc sống truyền giáo của mình.

Lần đầu ở Bangkok là để học ngôn ngữ. Lần này trở lại Bangkok mình cũng đóng vai trò một học sinh, ngày ngày cắp sách đến trường. Nhưng bây giờ không còn phải mày mò với những từ vựng tiếng Thái nữa mà mình lại đầu tư thời giờ và sức lực vào việc đọc sách nghiên cứu với hy vọng lấy được cái bằng tiến sĩ về tôn giáo học.

Thế là trong chu kỳ bảy năm, mình cũng đã hoàn tất được một vòng tròn. Tuy nhiên mình không phải trở lại cái điểm xuất phát mà bắt đầu với một điểm mới. Có thể nói cuộc hành trình của mình không phải là những vòng tròn, lập đi lập lại những con đường mòn mà là những vòng xóay. Mỗi vòng mới sâu hơn vòng cũ, có tính chất và đặc thù riêng.

Sau những năm tháng thăng trầm với sứ vụ trên cánh đồng truyền giáo tại vùng đông bắc Thái Lan, mình trở  lại Bangkok, hòa nhập vào cuộc sống ở đây, dấn thân với công việc học tập, và làm những công tác mục vụ mà mình tâm huyết. Mình vẫn là một linh mục trẻ, nhưng có thêm kinh nghiệm. Mình vẫn là người nước ngoài, nhưng thông thạo tiếng Thái. Mình vẫn là một "học sinh", nhưng bên cạnh đó mình vẫn là một nhà truyền giáo Ngôi Lời. Và trong mình có một sứ vụ đã được trao phó là đi rao giảng Tin Mừng cho người khác được biết Chúa. Vì thế mình luôn cảm thấy có một sự cấp bách, thôi thúc mình phải cố gắng hơn nữa để sẵn sàng làm những điều đang chờ mình phía trước.

Bảy năm trôi qua, đó là một chặng đường chất chứa nhiều thử thách và gian nan, nhưng cũng là một chặng đường rất đẹp được tô thắm bằng nhiều màu sắc. Bảy năm trôi qua, một chặng đường đủ dài để làm những gì mình thích thú, đồng thời thử nghiệm những cái mới lạ mà trước đây chưa bao giờ nghĩ đến. Bảy năm trôi qua, một quãng thời gian dài để xảy ra rất nhiều vấp ngã trong đời sống phục vụ cũng như trong đời sống tận hiến, nhưng cũng có không ít cơ hội để giúp cho mình nhận ra rằng hồng ân bao la của Ngài luôn đồng hành với mình trên mọi nẻo đường của cuộc đời truyền giáo.

Bangkok, ngày 19.2.2014

Tìm lại ánh trăng




Tôi không có một ký ức đặc biệt nào về Trung Thu cả. Thời thơ ấu tôi cũng ở Việt Nam, nhưng hình như điều duy nhất tôi làm trong đêm Trung Thu là đến trụ sở thôn để nhận bánh kẹo. Ngoài ra hình như nơi tôi ở không có tổ chức rước đèn hoặc bất cứ sinh hoạt văn hóa nào. Tôi cũng không nhớ vào những đêm Trung Thu tôi có được ngắm trăng hay không nữa bởi vì dường như có một hiện tượng hay xảy ra vào dịp lễ này là cứ đến Trung Thu là trời lại đổ mưa.  Tuy nhiên, tuổi thơ ấu của tôi lại luôn gắn bó với ánh trăng. Khi đó vùng quê của tôi chưa có điện. Vì thế cứ vào những đêm trăng sáng là bọn trẻ trong xóm đổ ra đường chơi những trò chơi bịt mắt bắt dê, chơi “ù”, và nhiều trò chơi khác mà chúng tôi nghĩ ra được để tạo cho nhau sự vui nhộn trong cuộc sống. Tuổi thơ ấu của tôi lại gắn liền với ánh trăng khi có những buổi sáng đi lễ, bước trên con đường đất từ nhà đến nhà thờ, tôi lại ngắm vầng trăng đi theo tôi. Tôi đi đến đâu, trăng theo đến đó. Lúc đó trong đầu óc non nớt của một đứa trẻ tôi chỉ lấy làm lạ tại sao giữa tôi và vầng trăng không bao giờ xa cách nhau cho dù tôi đang cố tình bước đi nhanh hơn, xa hơn, bỏ trăng lại phía sau. Thế mà mặc dầu tôi có bước nhanh hay chạy trốn thì mỗi khi tôi nhìn lên bầu trời, vầng trăng vẫn còn đó. Có khi tạm khuất một nửa phía sau ngọn cây dừa hoặc một áng mây nho nhỏ tình cờ bay qua, nhưng rồi trăng vẫn xuất hiện trên đầu tôi như chưa bao giờ rời tôi nửa bước. Giờ đây tôi đã lớn, bước chân của tôi đã đưa tôi đến khắp nẻo đường, từ những con đường quê Việt Nam đến những thành thị đồ sộ ở Hoa Kỳ, và cuối cùng đến cánh đồng truyền giáo mênh mông tại Thái Lan. Nhưng thỉnh thoảng vào những đêm tối, tôi vẫn nhìn lên bầu trời tìm vầng trăng, tìm lại những ký ức tuổi thơ, tìm lại cái cảm giác kỳ lạ của một vầng trăng không bao giờ xa cách, và tìm lại cảm nghiệm của một Sức Mạnh mầu nhiệm luôn đồng hành với tôi trên mọi lối đi và khúc quanh co trong cuộc sống.  

Trung Thu, 2013

Bảy năm trong đời sống linh mục



Thấm thoát tôi đã trải qua bảy năm trong đời sống linh mục. Bảy là một con số tốt. Trong Kinh Thánh, số bảy tượng trưng cho sự hoàn hảo và toàn vẹn, ví dụ Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ và nghỉ ngơi trong vòng bảy ngày. Nhưng khi nói về đời sống linh mục của tôi thì bảy không hề có ý nghĩa đó. Bảy năm đã trôi qua mà tôi thấy mình chưa hề hoàn hảo và toàn vẹn tí nào. Từng ngày tôi phải chiến đấu với bản thân để sống đời sống ơn gọi với hy vọng cuối ngày mình sẽ còn có thể đứng vững. Trong cuộc chiến đó có khi tôi thuộc về phía thắng, nhưng không ít lần tôi là phía bại. Và mỗi lần tôi vấp ngã thì tôi phải quyết tâm để đứng dậy tiến tới, cho dù những bước đi đầu tiên đó luôn luôn chất chứa đầy lúng túng và ngập ngừng. Tuy nhiên, như một đứa bé đang tập đi, nó càng đi thì càng tự tin hơn, và dần dần nó cũng ý thức được rằng, cái ngã không có nghĩa là gục. Nó biết rằng mình sẽ có thể đứng dậy đi tiếp nữa, cho dù không có gì bảo đảm mọi thứ phía trước sẽ trơn tru. Tôi cũng thế, bảy năm qua, tôi đã đi nhiều và cũng đã ngã nhiều. Nhưng tôi vẫn đứng dậy đi tiếp, cho dù hành trình ơn gọi sẽ luôn luôn là những cuộc chiến tâm linh lớn bé mà cái vấp ngã sẽ mãi là một nguy cơ rất lớn cho tôi. Và tôi vẫn tin như một đứa bé đang tập đi là cho dù tôi có vấp ngã bao nhiêu lần chăng nữa, thì nhờ lòng thương xót của Chúa, sự cảm thông và nâng đỡ của những người xung quanh, và sự quyết tâm của chính mình, tôi sẽ không bao giờ gục ngã. Ngược lại tôi sẽ ngày càng vững mạnh hơn trên con đường hướng đến sự vẹn toàn cho dù thời gian phải bỏ ra là 7 năm hay 7 lần 7 năm.

Trở về "mái nhà xưa" - ĐCV Ngôi Lời

Thánh lễ Vọng Phục Sinh

Nơi thăm viếng cuối cùng của mình tại Mỹ trước khi trở về lại Thái Lan là Đại Chủng Viện Ngôi Lời tại Epworth, IA. Đây là nơi mình có nhiều anh em cùng dòng đang phục vụ tại đây, và cũng có những bậc thầy đáng kính. ĐCV bây giờ khác nhiều so với thời mình học ở đây. Bây giờ các em chủng sinh high-tech hơn xưa. Và thành phần theo học ở trong ĐCV không còn chỉ là các chủng sinh Ngôi Lời mà còn có các seour, các thầy, và các linh mục từ Việt Nam và một số nước khác được nhận học bổng tới học nữa. Điều này làm cho ĐCV có sự phong phú và da đạng hơn. Lần này chuyến thăm viếng của mình trùng với Tuần Thánh nên mình được tham dự những nghi thức rất nghiêm trang và có ý nghĩa được tổ chức tại đây. Mình cũng được vinh dự chủ tế và thuyết giảng trong Thánh lễ Vọng Phục Sinh. Bây giờ sáng Chúa Nhật Phục Sinh, mình có rất nhiều điều để tạ ơn Chúa. Tạ ơn Ngài vì Ngài đã cho Chúa Giêsu xuống thế chịu chết và phục sinh để cứu chuộc loài người. Tạ ơn Chúa vì Ngài đã gọi mình trở nên nhân chứng loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Đức Kitô. Tạ ơn Chúa vì Ngài đã chọn mình làm một nhà truyền giáo Ngôi Lời. Tạ ơn Ngài vì trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, mình được về thăm ĐCV, gặp gỡ những khuôn mặt thân quen, cũng như xây dựng thêm mối quan hệ với những em chủng sinh mới trong dòng. Mình đã có một Tuần Thánh đầy ý nghĩa và mình cảm nhận được hồng ân của Chúa ban cho mình một cách tràn trề. Chúa Kitô đã sống lại rồi. Alleluia!!
Nghi thức hôn thánh giá


Nghi thức rửa chân cho nhau

Chầu Thánh Thể

Giờ ăn trong phòng ăn

Kinh sáng

Chặng đàng thánh giá

Các chủng sinh tập nghi thức chặng đàng thánh giá.

Giờ tập hát

Chụp hình với chủng sinh
Epworth, IA, ngày 31.3.2013 (Chúa Nhật Phục Sinh)

Chiếc áo không làm nên thầy tu


Tối hôm qua, tại nhà cha mới Ph. có tiệc họp mặt. Bà con và bạn bè đến chơi rất đông. Nhà đãi nguyên một con bê thui nóng bỏ trên cái lò xoay. Ban chiều thì con bê còn nguyên xi, nhưng tới 10 giờ tối thì nhìn lại chỉ thấy còn bộ xương.


Bà con ngồi trò chuyện từng nhóm, nhóm trong phòng khách, nhóm trong nhà bếp, nhóm sau vườn, nhóm trước cổng. Ngoài patio, cha Q., cha Th., anh Thắng, chị Hào, và chị Tuyết đang ngồi trò chuyện về trang phục của các cha.

Cha Q. từ Mỹ qua bình luận: - Bên Úc này 'cấp tiến' thật. Không ai mặc áo linh mục nữa. Mình tưởng ở Mỹ mình là cấp tiến, mà ai ngờ bên Úc này còn cấp tiến hơn.

Chị Tuyết đồng ý: - Ừ, cấp tiến thật đó. Có lần con lên dòng cha dự lễ. Bước từ ngoài cổng vào, còn thấy nhiều thanh niên ăn mặc sáng sủa lắm. Họ chào con, con cứ trả lời 'chào anh'. Cô bạn mới nhéo con bảo: 'Anh gì mà anh, cha thầy không đó bà'. Nghe nói mới biết chứ nhìn không ai mà biết được đó là cha thầy, hay anh chàng nào.

Chị Tuyết xoay qua hỏi tôi: - Vậy bên Mỹ dòng cha có mặc áo dòng không?

Tôi trả lời: - Áo dòng thì ở Mỹ đã bỏ lâu rồi. Nhưng áo linh mục thì tuỳ lựa chọn của cá nhân. Ai thích mặc thì mặc, ai không thích thì không bắt buộc.

- Vậy cha có mặc áo linh mục không?

- Em thì ít mặc, nhưng cũng thỉnh thoảng.

Một lát sau, trong phòng khách, cha mới Ph. mở hai gói quà từ một cha bác dòng Đồng Công ở Hoa Kỳ. Trong đó có 3 chiếc áo lễ được thêu rất là công phu bởi các seour ở tu viện Mân Côi trên đường Huỳnh Văn Bánh, Sài Gòn. 3 chiếc áo lễ có ba màu - vàng, trắng, và xanh. Cái áo thứ tư không phải là áo lễ, mà là áo linh mục màu xám. Cầm chiếc áo linh mục trong tay, anh Ph. nói với tôi:

- Bác cho mình chiếc áo này làm gì nhỉ? Mình đâu có mặc bao giờ đâu.

- Ngày mai, lễ mở tay của anh, anh có thể mặc một lần.


Anh nhìn tôi với ánh mắt như muốn nói: 'Không hề làm điều đó'.
Tôi hỏi anh:

- Vậy anh định không bao giờ mặc hết à?

Anh Ph. gật đầu, rồi hỏi tôi:

- Mình thấy bên đó các cha thường xuyên mặc áo linh mục phải không? Thấy cha Q., cha H. (anh em trong dòng) ai cũng mặc hết cả.

- Nhiều cha bên đó vẫn mặc. Không phải lúc nào mấy anh cũng mặc, nhưng khi có lễ, đặc biệt là lễ lớn, hay là có những trường hợp giao tiếp với giáo dân.

- Bên Úc này thì không thấy ai mặc bao giờ.

Anh Ph. nói xong rồi bỏ chiếc áo linh mục màu xám vào trong hộp quà, rồi đóng hộp lại như cũ.

Hoá ra là vậy. Ở Úc, các cha không có thói quen mặc áo linh mục. Từ ngày đến đây, tôi đã để ý điều này trong dòng tôi. Nhưng tôi đã không biết rằng đây không phải là trường hợp riêng biệt, nhưng mọi người đều như vậy.

Tôi vốn là người ít khi mặc áo linh mục, nhưng trước khi qua Úc tôi vẫn bỏ vào trong vali một chiếc áo màu đen và cổ trắng để sử dụng khi cần thiết. Nhưng từ ngày tới đây đến nay, tôi chưa có dịp lấy nó ra khỏi tủ. Bây giờ thì tôi biết rằng, nó sẽ giữ hoài vị trí của nó trong tủ áo cho đến ngày tôi thu xếp đồ đạc để lên đường sang Thái Lan. Thế là chiếc áo màu đen, một hình ảnh từng gắn liền với đời sống tận hiến của các cha không còn chỗ đứng nào trong não trạng của các linh mục ở đất nước này nữa.

Brisbane, QL ngày 26.11.2006

Xúc động


Lễ chịu chức của hai anh em trong dòng diễn ra tốt đẹp. Cuối lễ mỗi người đứng lên cám ơn cộng đoàn, người bằng tiếng Anh, người bằng tiếng Việt. Cha mới Ph. trong lời cám ơn cũng đã không giữ được bình tĩnh. Anh cứ bị nghẹn ngào vì quá cảm động, đặc biệt là trong lời cám ơn gia đình và những người thân đã đồng hành và nâng đỡ anh trong đời sống tu trì.


Trong bữa tiệc trà sau thánh lễ, khi tôi đến chúc mừng và trò chuyện với anh, anh đã tâm sự rằng: - Thật là khó mà không chảy nước mắt. Vì mình cảm thấy quá nhiều người đến với mình để giúp đỡ mình. Sự cảm động giống như là một phản ứng tự nhiên.

Tôi rất đồng tình với tâm trạng của anh Ph. Trong thánh lễ tạ ơn của tôi, tôi cũng đã phải rất cố gắng mới nói được hết lời cám ơn mà tôi đã soạn bởi vì tôi không thể giữ được bình tĩnh. Nhớ đến công lao sinh thành, dưỡng dục của bố mẹ và sự thương yêu, nâng đỡ của các anh chị và người thân, tôi lại cảm thấy quá nghẹn ngào. Vừa nói mà tôi cứ xụt xịt, rồi lấy khăn thấm nước mắt. Sự xúc động của tôi cũng đã làm cho nhiều người tham dự thánh lễ phải chảy nước mắt theo.

Mà có lẽ chẳng phải một mình tôi hay anh Ph. là người duy nhất bị như thế. Dường như tất cả các lễ tạ ơn mà tôi đã tham dự, khi tân linh mục đứng lên bày tỏ lòng cảm ơn đều mất bình tĩnh. Chính tôi cũng biết mình sẽ như vậy trước khi sự việc xảy ra. Trong những ngày tháng chuẩn bị cho thánh lễ đầu tay, tôi liên tưởng rất nhiều về giây phút đứng lên cảm ơn bố mẹ, các anh chị, và các ân nhân. Và trăm lần như một, tôi cứ chảy nước mắt khi nghĩ đến những gì mình muốn nói. Ngồi một mình trong phòng, có những lần tôi cứ để cho mình khóc oà lên như một đứa bé đang nhớ mẹ.

Sự ngậm ngùi có lẽ cũng có nhiều lý do. Một phần là tôi biết rằng mình không thể có ngày này nếu không có sự trợ giúp của tất cả những người đã đồng hành với mình. Nhưng phần khác, tôi dường như cảm nhận được rằng, với hai bàn tay trắng của tôi, ngoài lời cầu nguyện thì lời cảm ơn chân thành có lẽ là món quà duy nhất mà tôi có thể dùng để đáp trả tình thương mà tôi đã nhận được nơi họ.

Brisbane, QL ngày 25.11.2006

Lý tưởng và thực tại


Hôm nay, một trong hai người được chịu chức linh mục trong Hội dòng của tôi là một người đã khá lớn tuổi, đã từng có vợ và có con. Nhưng cuộc hôn nhân đó đã được Giáo hội công nhận là không thành. Thầy G. cũng là người duy nhất có nguồn gốc ở Úc trong dịp chịu chức này.

Trường hợp của thầy G. thì hiếm có trong cộng đồng người VIệt, và dường như chưa có tại Việt Nam. Tuy nhiên, ở Tây phương thì những trường hợp như thế này ngày càng phổ biến.

Trước đây, xu hướng "già hoá" của ơn gọi được thấy trong việc những người vào dòng đã rất trưởng thành, trải qua nhiều kinh nghiệm sống, đã đi làm thời gian lâu. Có người đã từng làm bác sỹ, kỷ sư. Nhưng đời sống xã hội không làm cho họ thoả mãn, vì thế họ đã tìm đến đời sống tu trì để đáp ứng nhu cầu tâm linh sâu xa hơn. Tuy nhiên, ngày nay ơn gọi không chỉ xuất phát từ những người độc thân, mà còn từ những người đã có gia đình như trường hợp của thầy G.

Đối với nhiều người thì một người như thầy G. có thể làm cho hình ảnh họ mang trong tâm trí về một vị linh mục "trong trắng" bị tác động mạnh mẽ. Có người còn cho rằng đây là một việc "phản cảm" vì họ không thể hình dung một vị linh mục hay tu sĩ đã từng có vợ và có con cái. Tuy nhiên, có lẽ cũng đã đến lúc chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa lý tưởng và thực tại.


Bản thân tôi không biết trên đời này có một linh mục hay tu sĩ nào có thể đáp ứng được cái hình ảnh "trong trắng" mà nhiều người mường tượng tới hay không. Hay trên thực tế, các linh mục vẫn mang trong mình nhiều mâu thuẫn, trong đó có cái tốt cái xấu lẫn lộn với nhau. Hõ đã có những cái đó trong người ngay từ lúc họ bắt đầu hành trình ơn gọi và chúng vẫn còn tồn tại ngay cả trong giây phút nhận chức linh mục. Và vị linh mục đó phải liên tục phấn đấu để mong sao cái tốt được thực hiện nhiều hơn cái xấu.

Sự trong trắng, thánh thiện có lẽ không phải là một "thực tại" nhưng trên thực tế là một "niềm hy vọng" và là một "mục tiêu" mà tất cả chúng ta, bất kể kẻ tu trì hay người ở ngoài xã hội phải hướng tới. Trong việc này thì tôi cho rằng không hẳn các linh mục hay tu sĩ có một điểm xuất phát thuận tiện hơn những người trong xã hội. Nhìn lại bản thân thì tôi nghĩ rằng, ngoại trừ những năm tôi chưa có trí khôn, còn những năm còn lại thì có lẽ tôi chưa bao giờ thấy mình là thánh thiện. Vẫn biết thế, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là Chúa vẫn muốn tôi làm chứng nhân cho Ngài.

Brisbane, QL ngày 25.11.2006

Hỏi chuyện bà cố

Hội dòng tại Úc sắp có thếm năm linh mục truyền giáo mới, trong đó có 3 người là gốc Việt. Hai người sẽ được tấn phong tại Brisbane vào cuối tuần này, còn 3 người còn lại sẽ được tấn phong hai tuần sau tại thành phố Melbourne. Một người anh em quê ở tỉnh Dak Nong có mẹ mới bay sang Úc để tham dự ngày lễ trọng đại nhất trong đời sống của con trai mình. Chúng tôi cùng nhau lái xe từ Sydney lên Brisbane để tham dự lễ, chuyến đi hơn 13 giờ đồng hồ.

Trên đường đi tôi hỏi chuyện bà cố:
- Bà cố đi đường xa có mệt không?
- Có gì mà mệt cha. Con đi như vậy cả tháng cũng được.
- Bà cố khoẻ vậy à?
- Con khoẻ lắm. Con có 12 đứa con, 6 trai 6 gái. Đứa nào cũng còn sống. Bây giờ mà ở nhà thì cũng đi làm rẩy. Làm cà phê đó cha.
- Bà cố cao tuổi rồi mà vẫn còn làm rẩy à? Sao bà cố không về hưu?
- Lúc nào mà con nhắm mắt xuôi tay thì lúc đó về hưu luôn cha.
- Vậy bà cố đã chuẩn bị lễ tạ ơn cho anh Tr. chưa?
- Chuẩn bị cả tháng rồi cha. Lên danh sách mời hết cả rồi.
- Bà cố dự định làm mấy mâm?
- 100.
- 100 mâm luôn. Nhiều vậy bà cố?
- Tại vì phải mời cả giáo xứ cha. 100 mâm thật ra cũng chưa đủ. Phải tới 150 mâm mới đủ.
- Giáo họ có tổ chức gì không?
- Có chứ. Ở chỗ con, giáo họ lúc nào cũng có tổ chức cho cha mới. Có cha kia vừa rồi họ đãi 80 mâm.
- Các cha mới được ưu đãi quá ha. Còn các seour thì sao?
- Các seour không được gì hết cha.
- Ủa, sao kỳ thị mấy seour vậy bà cố?
- Tại vì các seour chỗ con đi tu nhiều quá cha.
Nghĩ lại cũng tội nghiệp các seour thật. Các chị cũng dâng trọn đời cho Chúa, cũng làm việc đêm ngày để phục vụ Nước Trời, nhưng giáo dân vẫn luôn kính trọng các Cha hơn. Không biết đến lúc nào thì giáo họ, thay vì đãi 80 mâm cho cha mới, và 0 mâm cho seour khấn trọn đời, thì chỉ đãi 40 mâm mừng cha mới, và 40 mâm để mừng lễ khấn trọn đời của các seour.

Brisbane, QL ngày 24.11.2006

Hòa mình chứ không hòa tan


Hôm nay tôi đọc được một bài trong tạp chí TIME cua Hoa Kỳ cho hay, các dòng nữ tu tại nước này đang trải qua một hiện tượng bất ngờ, đó là ơn gọi đi tu làm ma seour đang trên đà gia tăng. Xu hướng giảm ơn gọi đang trở ngược lại. Có hội dòng còn phải xây thêm nhà để có chỗ cho các thành viên mới vào ở. Tuổi của những ơn gọi mới này cũng trẻ hơn. Ngày càng có thêm nhiều sinh viên đại học tìm hiểu ơn gọi.


Có một nhận xét khác nữa là nhiều seour trẻ bây giờ ưa chuộng mặc tu phục, ngược lại với lớp các seour già đã loại trừ tu phục từ thời hậu Công đồng Vaticanô II. Các seour trẻ thích mặc tu phục như một lời tuyên bố và làm chứng về sự lựa chọn táo bạo mà họ đã làm trước những giá trị suy đồi của thế giới hiện đại.


Việc người trẻ bây giờ vào dòng, và chọn lựa những dòng mang phong thái "truyền thống" có lẽ cũng là một phản ảnh nói lên phản ứng của giới trẻ với sự rối loạn của thế giới ngày nay. Thế giới ngày càng phức tạp, và người trẻ ngày càng bị chao đảo giữa nhiều thứ hổn hợp, mâu thuẫn. Trở về với những gì gọi là "truyền thống" có thể là biện pháp mà người trẻ sử dụng để tự mình tìm lại sự quân bình trong đời sống. Không phải người trẻ nào cũng hài lòng với lối sống "thích gì làm nấy" được phổ biến và khuyến khích trong xã hội ngày nay.


Phương pháp khép mình lại để bảo vệ và duy trì sự sáng suốt của bản thân cũng là một điều cần thiết và tự nhiên để đối phó với những sức ép chung quanh. Nhìn lại mình, tôi thấy tôi không giống những bạn trẻ này. Tôi ra đường chẳng ai biết là linh mục hay tu sĩ. Tôi nhớ lần đầu tiên đi theo một ma seour ở Việt Nam đến thăm nơi hậu cai ma túy, những bạn trẻ nhìn ra cổng thấy tôi bước vào tưởng rằng tôi là thành viên mới gia nhập vì nhìn tướng tôi hơi bậm trợn.


Về trang phục, tôi ưa chuộng quần jeans hay khakhi và áo thun hay áo schemise giản dị khi ở nhà hoặc ra đường. Đi tham dự lễ lạt hay tiệc tùng, tôi mặc quần tây và áo schemise, thỉnh thoảng thêm áo veston và cravat.


Nhiều khi tôi nghĩ không biết mình cần phải làm gì để "tách" mình ra khỏi đám đông. Tại sao nhìn vào các linh mục hay tu sĩ khác thì người ta nhận ra ngay, còn nhìn tôi thì họ không thể? Tôi cũng không biết được bí quyết của những người đó là gì? Nhìn đạo đức hơn chăng? Lịch lãm hơn chăng? Chửng chạc hơn chăng? Lịch sự hơn chăng?


Thế rồi, nghĩ lại tôi thấy bình thản với phong cách riêng của mình. Tôi cố gắng làm sao có thể hòa đồng với xã hội và với những người trong môi trường sống của mình. Dù sao đi nữa thì tôi cũng là một thanh niên, một người trong xã hội, một người có bạn bè, có những sở thích giao tiếp, thể thao, ca nhac... Tuy nhiên, hòa đồng không có nghĩa phải hòa tan khiến cho mình mất đi bản sắc của một linh mục, một tu sĩ, và một nhà truyền giáo. Đó cũng là nguy cơ của những ông cha ông thầy mà người ta gán cho cái hiệu là "chịu chơi". Tìm được sự thăng bằng để "chơi" mà đừng có "chết" cũng không phải là chuyện đơn giản.


Chúa Giêsu cũng chịu chơi lắm nhỉ. Ngài đã xuống thế làm người, sống như con người, chia sẻ hoàn cảnh của con người, "ăn nhậu" với con người, nhưng sự thánh thiện và bản chất Thiên Chúa trong Ngài đã tồn tại một cách tuyết đối.


Epping, NSW ngày 22.11.2006