Gặp lại Khoa


Trong chuyến đi Việt Nam tháng 11, 2009 vừa qua, mình gặp lại Khoa một bạn trẻ mà mình từng đồng hành tại Việt Nam. Khoa nghiện ma túy. Sau đó tham gia chương trình Phục Sinh, một chương trình giúp cho các bạn trẻ cai nghiện ma túy. Sau khi tham gia chương trình một thời gian hai năm, Khoa trở về lại thành phố, sau đó quyết định đi lính. Đi lính xong, Khoa về lại thành phố và tìm việc làm.

Lần cuối cùng mình nói chuyện với Khoa đã hơn 3 năm. Gặp lại em lần này mình bất ngờ. Khoa chửng chạc hơn, bây giờ đã 27 tuổi. Em có việc làm tốt với mức lương khá cao, đặc biệt đối với một người chưa học xong phổ thông. Em đã bỏ ma túy được 5 năm. Bây giờ da thịt trắng trẻo hơn, phong độ hơn ngày xưa. Em đã lột da bên trong lẫn bên ngoài.

Mình đi uống cà phê với Khoa hai lần. Bây giờ vấn đề chính yếu của em không phải là làm sao bỏ được ma túy, mà làm sao tiếp tục thăng tiến trong cuộc sống. Có công việc tốt và tốt hơn, xây dựng tương lại cho bản thân và giúp đỡ gia đình. Và trên hết, làm sao duy trì được đời sống tâm linh giữa những cám dỗ trong đời sống vật chất và đua đòi trong xã hội.

Gặp lại Khoa làm mình nhớ đến cuộc phỏng vấn mà tôi đã làm với em từ năm 2005 (http://nhatkytruyengiao5.blogspot.com/2007/04/gi-t-ma-ty.html). Lúc đó Khoa chỉ mới vừa bắt đầu bỏ được ma túy. Tương lai của em vẫn còn rất nhiều dấu chấm hỏi. Lúc đó mình chưa dám khẳng định bất cứ điều gì về Khoa vì mình biết quá trình cai nghiện rất vất vả và mức thành công vô cùng khiêm tốn. Nếu Khoa vượt qua được những thử thách và cám dỗ thì em sẽ thuộc vào thành phần thiểu số rất nhỏ.

Bây giờ Khoa đã bỏ được 5 năm, có công ăn việc làm tốt, có chí hướng trong cuộc sống, mình mừng cho em, và có những hy vọng cụ thể cho tương lai của em. Nhưng mình cũng tự nhắc nhở chính mình và nhắc nhở Khoa rằng hãy luôn luôn cảnh giác, vì cái bệnh nghiện ma túy có thể tái phát bất cứ lúc nào. Hãy bám víu lấy Chúa, hãy duy trì đời sống tâm linh, hãy sống cho người khác. Chỉ như vậy mình mới có thể tiếp tục hồi phục và duy trì sự lành mạnh.


Nong Bua Lamphu, ngày 19.11.2009

Xe hư


Hôm nay về tới Nong Bua Lamphu
.
Cha Trực đón mình ở ga tàu lửa ở Udon Thani lúc 8h sáng. Mình đi tàu lửa vì hành lý mình nhiều quá đi máy bay không được. Một số đồ đem qua từ Mỹ, một số đồ từ Việt Nam.

Về tới nơi nhìn thấy chiếc xe cũ của mình đã bị hư. Cô Fốn nói là hư trong dịp đi nhà thờ ở tỉnh Leuy để mừng lễ quan thầy. Trên đường đi thi xe hỏng. Trên xe có nhóm giới trẻ. Tài xế xe là Thồn, người giúp việc cho nhà thờ. Tiền sửa xe nghe nói không ít, nhưng trên giáo phận nói cha xứ phải chịu trách nhiệm cho việc sửa chữa. Xe này đã gần 500.000 cây số, cha đường xa không dám chạy. Mình chỉ chạy khi nào phải đi đâu trong vòng 60 cây số. Lần này đi chuyến đi trên 100 cây số nên xe chịu không nổi.

Xe của mình đã chuyển qua nhiều tay sử dụng. Nó là xe cũ nhất trong giáo phận. Mình thừa hưởng lại từ các cha. Mình muốn xin một chiếc mới hơn nhưng bên giáo phận không mấy rộng rải trong việc giúp đỡ cho các cha dòng trong vấn đề tài chánh. Giáo phận muốn nhà dòng lo cho mình. Nhà dòng thì bảo giáo phận phải lo vì mình làm việc cho giáo phận. Hai bên đá qua đá lại, mình ở giữa chịu trận. Bây giờ xe cộ không có. Tự đi mua thì không có tiền. Ngày mai đi họp phải mượn xe của một giáo dân. Ở đây đi họp hoặc là đi tham dự các chương trình trong giáo phận đều phải đi xuyên tỉnh vì cả tỉnh NBL chỉ có nhà thờ mình là Công giáo.

Mới vừa về tới nơi nhưng thấy trước mắt đã có khá nhiều vấn đề phải giải quyết. Không tránh nổi những điều không mấy hay xảy ra trong lúc mình vắng mặt tới ba tháng. Chỉ hy vọng rằng những điều không hay đó sẽ không đến nổi quá khó để khắc phục.

Nong Bua Lamphu, ngày 16.11.2009

Một vị sư, một người Hồi giáo, và mình


Tối qua trên chuyến bay từ Sài Gòn đến Bangkok có một vị sư Phật giáo. Ông ta bay qua Thái Lan để đón chuyến bay đi Miến Điện. Vị sư này đã cao tuổi và hình như chưa từng đi nước ngoài nên tỏ ra khá lo lắng. Sư nói là sư phải chờ ở sân bay từ tối cho đến sáng hôm sau mới lên máy bay đi Miến Điện. Nhưng sư không ra ngoài thuê khách sạn ở mà chỉ ở trong sân bay chờ.

Khi xuống máy bay sự tỏ ra lúng túng. Có một anh chàng Việt Nam dẫn sư đến gặp nhân viên sân bay. Họ cho sư vào hàng hải quan dành cho các nhà ngoại giao nên sư ra ngoài rất mau. Sau đó mình đến gặp sư ở nơi quầy nhận hành lý. Vali của sư là một trong những cái đến cuối cùng. Sự sợ bị mất.

Mình nói với sư là ở đây người ta tôn trọng các nhà sư lắm. Sau khi sư nhận hành lý xong thì con sẽ đi hỏi nhân viên về nơi nào mà sư có thể nghỉ ngơi qua đêm. Sư cám ơn mình rồi đi theo mình lên lầu 4.

Ở đây mình chỉ cho sư nơi mà sư phải vào đăng ký để đi Miến Điện ngày hôm sau. Rồi mình hỏi nhân viên sân bay có nơi nào cho sư nghỉ không. Cô nhân viên nói là có, để co đi xem. Vài phút sau cô trở lại nói:

- Bên trong có phòng nghỉ, nhưng ở đây chỉ dành cho những người đã tới đăng ký chuyến bay rồi. Giờ bay của sư ngày mai mới tới nên e rằng sẽ không vào bên trong được. Nếu muốn thì đi hỏi nhân viên chuyến bay AirAsia xem có vào trong được không. Nếu không được thì dưới lầu hai có một phòng tụng kinh. Sư có thể vào đó nghỉ ngơi.

Mình cám ơn cô nhân viên sân bay rồi đi đến gắp nhân viên hãng bay AirAsia để hỏi xem có làm thủ tục cho sư vào sớm được không. Họ nói không được, phải chờ đến ngày mai.

Mình dẫn sư xuống lầu hai để đi tìm phòng tụng kinh. Tìm một lúc không thấy, mình hỏi một anh trong đồng phục an ninh nhờ chỉ đường. Anh nói phải lên lầu 3. Mình và sư đi thang máy lên lầu 3. Cách thang máy khoảng 100 mét có phòng tụng kinh. Hóa ra đây là phòng tụng kinh danh cho người Hồi giáo.

Mình nghỉ trong long có lẽ phòng này cũng chỉ là một căn phòng mà ai cũng có thể vào để cầu nguyện và tìm sự yên tỉnh. Mình và sư mở cửa vào thấy trong phòng có những miếng thảm cho người ta ngồi để tụng kinh. Thấy mình và sư bước vào một chàng thanh niên trạc 35 tuổi đang ngồi ở ghế bên ngoài phòng cầu nguyện đứng lên hỏi:

- Anh đi đâu thế?

- Vị sư này đến từ nước ngoài. Sư phải chờ rất lâu mới được lên máy bay đi Miến Điện. Sư cần nơi yên tỉnh để nghỉ ngơi. Tôi hỏi nhân viên sân bay thì họ chỉ vào đây. - Mình trả lời.

- Nhưng ngài không thê vào đây được. - Người thanh niên Hồi giáo nói.

- Tại sao không được?

- Vì ở đây chỉ dành cho người Hồi giáo. Ai vào đây phải có cùng niềm tin, phải ăn mặc theo luật của người Hồi giáo và phải làm những nghi thức rửa sạch trước.

- Tôi hiểu điều đó. Nhưng vị sư này đang rất mệt mỏi và sư được nhân viên sân bay chỉ vào đây. Không lẽ ở đây không chấp nhận cho ngài nghỉ ngơi một lúc hay sao?

- Có lẽ là không. Ví dụ như nếu tôi vào nhà thờ của anh (người thanh niên ấy biết mình là Ki-tô giáo vì thấy mình đeo dây Thánh giá trên cổ) mà tôi mặc những áo quần của người Hồi giáo rồi đội nón thì anh sẽ nghỉ sao.

- Tôi chẳng nghỉ sao cả. Ai vào nhà thờ cũng được cả.

- Nhưng ở đây thì không được.

- Tôi cũng biết các tôn giáo có những điều luật. Nhưng không lẽ quý vị không thể đón tiếp một người lạ và giúp đỡ người đang gặp khó khăn hay sao?

- Có lẻ anh phải học thêm về tôn giáo Hồi giáo. Vấn đề ở đây không phải đón tiếp hay không đón tiếp mà là việc giữ điều luật tôn giáo.

Cuộc đối thoại giữa mình và người thanh niên Hồi giáo chỉ xoay vòng như thế. Anh ta cố giải thích cho mình hiểu tại sao vị sư này không thể nghỉ chân trong phòng cầu nguyện của người Hồi giáo. Còn mình thì tìm cách giải thích cho anh hiểu tại sao người ta nên gác qua những lề luật để giúp đỡ những người đang gặp khó. Vị sư vì không nói được tiếng Thái nên chỉ đứng nhìn mình nói chuyện. Ngài không hề biết mình là một linh mục Công giáo.

Sau một lúc cuộc trao đổi có vẻ không tiến bộ là bao nên mình quyết định dẫn vị sư ra khỏi phòng tụng kinh. Mình chúc lành cho người thanh niên Hồi giáo và chào anh đi. Lời chúc lành của mình không mấy nhiệt tình.

Mình định dẫn vị sư trở lại lầu 4 nơi có những hàng ghế dành cho hành khách ngồi thì tình cờ gặp một cô gái trong bộ đồng phúc màu đen. Mình tưởng cô ta là nhân viên sân bay, nhưn hóa ra chỉ là nhân viên của một cửa hàng. Mình hỏi cô ta có phòng nào ngoài phòng tụng kinh của người Hồi giáo để dẫn sư đi nghỉ ngơi không? Cô ta nói có. Mình hỏi ở đâu? Cô ta trả lời đi xa hơn phòng tụng kinh một khúc. Phòng này dành cho các sư cũng như chú tiểu nghỉ ngơi.

Mình dẫn sư quay lại chổ cũ, đi quá phòng tụng Kinh khoảng 50 mét. Ở đó có những căn phòng khá rộng nhưng đã khóa hết. Chỉ có một phòng không khóa là phòng có bảng ghi là dành cho các sự và chú tiểu. Hóa ra là cũng có một căn phòng như thế.

Mình mở cửa cho Sư đi vào. Trong phòng có bàn và một số ghế. Ngoài ra không có gì nhiều. Nhưng ở đây yên tỉnh, sạch sẻ, và riêng biệt. Sư bảo phòng như thế tốt rồi. Mình nói thế thì mình xin chào sự ra về. Trước đó mình có gởi sư một ít tiền Baht để sư mua thức ăn. Sư cám ơn mình đã giúp sư tìm nơi nghỉ ngơi và hướng dẫn sư trong việc các thủ tục.

Mình ra bên ngoài sân bay. Lúc đó đã gần 9h tối. Mình leo lên một chiếc xe taxi để đi vào thành phố. Mình kể cho ông tài xế taxi nghe chuyện vừa xảy ra. Không ngờ chỉ ngẩu hứng mà mình đã có một cuộc "gặp gỡ liên tôn" như thế. Kinh nghiệm nhỏ bé này cũng cho ta thấy vấn đề liên tôn còn là một hành trình dài cho các tôn giáo muốn xích lại với nhau để hiểu và thông cảm cho nhau nhiều hơn.

Bangkok, này 13.11.2009